The Provincial Competitiveness Index ( PCI )

CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH

Provincial Green Index

English

So sánh 63 tỉnh / thành phố

So sánh chỉ số PCI giữa các tỉnh/ thành phố

Tìm kiếm

So sánh chỉ số PCI giữa các năm

Tìm kiếm

Tin mới nhất

09 Tháng 9, 2026

Khơi thông tiếng nói doanh nghiệp, nâng sức cạnh tranh quốc gia

(ĐTCK) Hơn hai thập kỷ trước, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) ra đời như một phép thử táo bạo: để chính các doanh nghiệp tư nhân “chấm điểm” chất lượng điều hành của chính quyền địa phương. Đến nay, phép thử ấy đã trở thành một hệ sinh thái dữ liệu quan trọng, góp phần kết nối tiếng nói doanh nghiệp với quá trình cải cách thể chế.

Ngày 15/5/2026, đúng một năm sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, VCCI công bố Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam và PCI 2025, đánh dấu bước nâng cấp lớn trong phương pháp luận sau hơn hai thập kỷ PCI được triển khai.

Báo cáo phản ánh tiếng nói của 5.128 doanh nghiệp và hộ kinh doanh tại 34 tỉnh, thành. Đáng chú ý, lần đầu tiên, 1.001 hộ kinh doanh cá thể được đưa vào khảo sát chính thức.

PCI 2.0 gồm 9 chỉ số thành phần với 98 chỉ tiêu, trong khi Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI) lần đầu được đưa vào như một thước đo độc lập với 23 chỉ tiêu. Cách công bố PCI cũng chuyển từ cuộc đua thứ hạng sang 6 nhóm chất lượng điều hành.

Theo PGS.TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI, đây là sự trưởng thành về phương pháp luận: PCI không còn đơn thuần là công cụ để xem “ai hơn ai”, mà trở thành công cụ chẩn đoán giúp mỗi địa phương nhận diện đúng điểm nghẽn và có hướng cải thiện phù hợp.

Nếu hơn hai thập kỷ trước, PCI tạo ra một kênh kết nối giữa doanh nghiệp và chính quyền, thì PCI 2.0 đang tiến thêm một bước: biến tiếng nói doanh nghiệp thành dữ liệu để đối thoại và cải cách có mục tiêu hơn.

Khi dữ liệu được chuyển hóa thành hành động

Một bộ dữ liệu, dù đầy đủ đến đâu, cũng chỉ có giá trị khi được chuyển hóa thành hành động. PCI 2025 cho thấy rõ điều này qua kết quả của các địa phương dẫn đầu.

Năm địa phương thuộc nhóm chất lượng điều hành “Tốt” gồm Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ và Quảng Ninh không ghi điểm nhờ một lợi thế đơn lẻ, mà nhờ khả năng cải thiện tương đối đồng đều trên nhiều chiều cạnh.

Các địa phương thuộc nhóm chất lượng điều hành “Tốt” không ghi điểm nhờ một lợi thế đơn lẻ, mà nhờ khả năng cải thiện tương đối đồng đều trên nhiều chiều cạnh
Các địa phương thuộc nhóm chất lượng điều hành “Tốt” không ghi điểm nhờ một lợi thế đơn lẻ, mà nhờ khả năng cải thiện tương đối đồng đều trên nhiều chiều cạnh

Bắc Ninh dẫn đầu về Chính quyền kiến tạo và Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính. Đà Nẵng dẫn đầu về Gia nhập thị trường. Hải Phòng có 7 trên 9 chỉ số thành phần nằm trong nhóm 10 địa phương cao nhất cả nước.

Theo báo cáo, chất lượng điều hành PCI năm 2022 có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả kinh tế tư nhân BPI năm 2025. Ba địa phương dẫn đầu BPI là TP.HCM, Hà Nội và Quảng Ninh.

Điều này cho thấy cải cách cần thời gian để chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực chất. Như ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký VCCI, nhận định, đó là “độ trễ chính sách”.

PCI 2.0 và BPI vì vậy không chỉ giúp đo lường hiện trạng mà còn tạo cơ sở để các địa phương kiên định với những cải cách dài hạn. Kết quả cuối cùng không nằm ở số thủ tục được cắt giảm, mà ở việc khu vực kinh tế tư nhân có thực sự lớn mạnh hơn hay không.

Tích lũy nội lực nhờ cải cách thể chế

Nếu PCI đo lường chất lượng môi trường kinh doanh và BPI phản ánh hiệu quả của khu vực kinh tế tư nhân, thì câu chuyện của từng doanh nghiệp chính là nơi cho thấy quá trình chuyển hóa ấy diễn ra như thế nào.

Tân Hiệp Phát là một trường hợp có thể nhìn thấy khá rõ mối quan hệ giữa cải cách thể chế và quá trình tích lũy nội lực của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.

Năm 1994, chỉ vài năm sau khi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời, mở ra không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân, Tân Hiệp Phát được thành lập. Từ những bước đi đầu tiên, doanh nghiệp đã lựa chọn con đường phát triển dựa trên đầu tư dài hạn: mạnh dạn ứng dụng công nghệ hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh số hóa và xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời đã mở ra không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân.
Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời đã mở ra không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân.

Ba mươi hai năm sau ngày thành lập, từ một cơ sở sản xuất nước giải khát nhỏ, Tân Hiệp Phát đã từng bước tích lũy nội lực và vươn lên trở thành một trong những doanh nghiệp đồ uống lớn của Việt Nam. Doanh nghiệp hiện vận hành 4 cụm nhà máy, 12 dây chuyền chiết rót vô trùng Aseptic tại các vùng kinh tế trọng điểm.

Năng lực công nghệ, quản trị và chất lượng được tích lũy qua nhiều thập niên cũng giúp sản phẩm Tân Hiệp Phát đáp ứng yêu cầu của những thị trường quốc tế như Pháp, Hà Lan, Australia và Canada, với các tiêu chuẩn, chứng nhận như FDA, Halal, ISO, HACCP.

Đằng sau quá trình mở rộng quy mô ấy không chỉ là những khoản đầu tư vào nhà máy và dây chuyền sản xuất. Đó còn là quá trình chuyển đổi từ sản xuất dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên công nghệ, dữ liệu và hệ thống chất lượng; từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng, đổi mới và năng lực vận hành.

“Từ cơ hội được mở ra bởi cải cách thể chế, doanh nghiệp đã biến cơ hội đó thành năng lực cạnh tranh bằng những khoản đầu tư bền bỉ vào công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng và con người”, ông Nguyễn Duy Hưng, Thành viên HĐQT Tân Hiệp Phát, chia sẻ.

Theo ông, dữ liệu từ Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam không chỉ có giá trị đối với cơ quan quản lý trong quá trình hoàn thiện thể chế, mà còn là cơ sở để doanh nghiệp nhìn lại chính mình, nâng cao chất lượng quản trị và có thêm niềm tin cho những quyết định đầu tư dài hạn.

“Đây là nguồn dữ liệu có giá trị để cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, đồng thời cũng giúp doanh nghiệp nhìn lại chính mình để minh bạch hơn, quản trị tốt hơn, đầu tư dài hạn hơn và phát triển bền vững hơn”, ông Hưng nhận định.

Ông Nguyễn Duy Hưng: “Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam giúp doanh nghiệp nhìn lại chính mình để minh bạch hơn, quản trị tốt hơn, đầu tư dài hạn hơn và phát triển bền vững hơn”.
Ông Nguyễn Duy Hưng: “Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam giúp doanh nghiệp nhìn lại chính mình để minh bạch hơn, quản trị tốt hơn, đầu tư dài hạn hơn và phát triển bền vững hơn”.

Câu chuyện của Tân Hiệp Phát cho thấy mối quan hệ giữa cải cách thể chế và năng lực doanh nghiệp không phải là quan hệ một chiều. Thể chế tạo ra không gian và niềm tin cho đầu tư; còn doanh nghiệp phải biến không gian đó thành năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị và đổi mới sáng tạo.

Khi hai quá trình này gặp nhau, cải cách mới có thể được chuyển hóa thành sức cạnh tranh thực chất.

Từ tiếng nói doanh nghiệp đến sức cạnh tranh quốc gia

Nếu ở cấp độ địa phương, PCI 2.0 và BPI phản ánh chất lượng điều hành và sức khỏe khu vực kinh tế tư nhân, thì ở quy mô quốc gia, hai bộ công cụ này giúp Việt Nam nhận diện những điểm nghẽn đang cản trở quá trình nâng cấp năng lực cạnh tranh.

Dữ liệu từ báo cáo cho thấy khoảng cách của Việt Nam với khu vực và thế giới vẫn còn đáng kể.

Chỉ 8,8% doanh nghiệp Việt Nam có đổi mới sản phẩm, thấp hơn Malaysia, Thái Lan và mức trung bình của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương. Trong tiếp cận vốn, tỷ lệ khoản vay yêu cầu tài sản thế chấp tại Việt Nam cũng cao hơn nhiều so với một số nền kinh tế trong khu vực.

Những con số này cho thấy cải cách cần tập trung vào năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo nếu Việt Nam muốn chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào lao động và chi phí thấp.

Theo nhóm nghiên cứu Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025, năng lực cạnh tranh có thể được nhìn nhận qua bốn lớp.

Thứ nhất là năng lực cạnh tranh thể chế, được quyết định bởi mức độ minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Báo cáo cho thấy chỉ 6–8% doanh nghiệp thường xuyên dự báo được thay đổi chính sách, trong khi 51,9% phải tự tìm hiểu thông tin pháp luật qua mạng xã hội thay vì các kênh chính thống.

Thứ hai là năng lực cạnh tranh về năng suất, gắn với khả năng doanh nghiệp mở rộng quy mô, chuyên nghiệp hóa quản trị và tối ưu chuỗi cung ứng.

Thứ ba là năng lực cạnh tranh đổi mới sáng tạo. Tỷ lệ doanh nghiệp có chứng nhận chất lượng quốc tế của Việt Nam hiện chỉ đạt 6,8%, thấp hơn Malaysia 17,8% và Thái Lan 11,9%.

Cuối cùng là năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư chất lượng cao, phụ thuộc vào khả năng tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và có thể dự báo để giữ chân các dòng vốn dài hạn.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Việt, Chủ tịch Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam, khi một doanh nghiệp đầu ngành chủ động tham gia xây dựng dữ liệu kinh tế quốc gia, tác động lan tỏa không chỉ dừng lại ở bản thân doanh nghiệp.

“Các doanh nghiệp khác sẽ thấy rằng việc minh bạch thông tin và đồng hành cùng các mục tiêu quốc gia không chỉ là trách nhiệm, mà là cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình”, ông Việt đánh giá.

PGS.TS Nguyễn Văn Việt: “Minh bạch thông tin và đồng hành cùng các mục tiêu quốc gia không chỉ là trách nhiệm, mà là cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình”.
PGS.TS Nguyễn Văn Việt: “Minh bạch thông tin và đồng hành cùng các mục tiêu quốc gia không chỉ là trách nhiệm, mà là cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình”.

Chương mới của đối thoại công - tư

Sau hơn hai thập kỷ, PCI đang bước sang một giai đoạn mới. Câu hỏi không còn chỉ là địa phương nào điều hành tốt hơn, mà là những cải cách đó đang tạo ra thay đổi gì đối với năng lực của doanh nghiệp và sức khỏe của khu vực kinh tế tư nhân?

Những dữ liệu mới sẽ cho phép nhìn sâu hơn vào chuỗi tác động: cải cách có tạo thêm niềm tin không; niềm tin có chuyển thành đầu tư không; đầu tư có tạo ra đổi mới và năng suất không; và những năng lực ấy có giúp doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh tốt hơn trong khu vực và trên thị trường toàn cầu hay không?

Đó là những câu hỏi quan trọng hơn cả một bảng xếp hạng.

Giá trị lớn nhất của PCI và Báo cáo Kinh tế tư nhân thường niên nằm ở khả năng chỉ ra chặng đường tiếp theo cần cải cách ở đâu và doanh nghiệp cần chuẩn bị năng lực gì để bứt phá.

Từ một phép thử để doanh nghiệp “chấm điểm” chính quyền, PCI hôm nay đang trở thành một công cụ để Nhà nước và doanh nghiệp cùng hướng tới một môi trường kinh doanh nơi niềm tin tạo ra đầu tư, đầu tư tạo ra nội lực, nội lực tạo ra năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tạo nên sức mạnh của nền kinh tế.

Và đó cũng có thể là thước đo quan trọng nhất của một chu kỳ cải cách mới: không chỉ môi trường kinh doanh tốt lên bao nhiêu, mà doanh nghiệp Việt Nam đã lớn lên đến đâu.

Nguồn: Tin nhanh chứng khoán

14 Tháng 8, 2026

Quảng Ngãi bàn giải pháp cải thiện, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)

Sáng 12/8, phát biểu tại Hội nghị bàn giải pháp cải thiện, nâng cao chỉ số PCI cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Đức Tâm yêu cầu, phải kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không để doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần, chờ đợi kéo dài hoặc phát sinh những chi phí không chính thức.

11 Tháng 8, 2026

Sơn La: Cải thiện môi trường đầu tư, tạo động lực phát triển

Môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng thuận lợi đang góp phần nâng cao sức hấp dẫn của Sơn La đối với cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng điều hành, tăng tính công khai, minh bạch và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đang tạo điều kiện huy động các nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Xây dựng chính quyền đồng hành, phục vụ

Xác định cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, tỉnh đã tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, duy trì đối thoại với doanh nghiệp, nâng cao chất lượng điều hành; đồng thời, sử dụng kết quả các chỉ số đánh giá để nhận diện hạn chế, điểm nghẽn trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

UBND tỉnh và Chủ đầu tư ký kết hợp đồng Dự án Khu đô thị mới lân cận trung tâm du lịch trọng điểm tại phường Vân Sơn.

Một trong những giải pháp tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp là đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, sớm đưa nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh. Bà Thái Thị Kim Ngân, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, cho biết: Tỉnh đặt mục tiêu bảo đảm 100% hồ sơ đăng ký kinh doanh được tiếp nhận, xử lý đúng và trước thời hạn; rà soát các thủ tục liên thông phức tạp để giảm từ 30-50% thời gian giải quyết; tỷ lệ hồ sơ xử lý trực tuyến toàn trình đạt trên 95%.

Cùng với đó, tỉnh chú trọng nâng cao Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI). UBND tỉnh đã ban hành quyết định về kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2026-2030 và báo cáo về nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Hiện nay, Chỉ số PAR INDEX của tỉnh đạt 90,02%. Kết quả khảo sát DDCI được công khai hằng năm, là một trong những căn cứ đánh giá chất lượng điều hành của các sở, ngành, địa phương và trách nhiệm của người đứng đầu.

Ông Đào Văn Quang, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh, cho biết: Việc công bố kết quả DDCI có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng thực chất, hiệu quả. Qua kết quả khảo sát, các sở, ban, ngành, địa phương nhận diện rõ điểm mạnh, những tồn tại, hạn chế và điểm nghẽn cần khắc phục; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, thúc đẩy xây dựng chính quyền phục vụ, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Thi công Dự án Tổ hợp nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và chế biến nông sản của Công ty TNHH Mavin Mai Sơn.

Ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số tiếp tục được tỉnh đẩy mạnh trong quản lý quy hoạch, dữ liệu đất đai và danh mục dự án đầu tư. Sơn La đặt mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai theo tiêu chí “Đúng - Đủ - Sạch - Sống”, công khai 100% quy hoạch và danh mục dự án trên môi trường số, giúp nhà đầu tư chủ động nghiên cứu thị trường, lựa chọn địa điểm, đánh giá khả năng triển khai dự án và chuẩn bị nguồn lực. Thông tin được chuẩn hóa, dễ tiếp cận cũng góp phần rút ngắn thời gian tìm kiếm cơ hội đầu tư, hạn chế chi phí phát sinh.

Tỉnh định hướng thiết lập hệ thống điện tử tiếp nhận, theo dõi tiến độ giải quyết kiến nghị, vướng mắc của doanh nghiệp; tăng cường kiểm tra công vụ, bảo đảm các chủ trương, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư được thực hiện đồng bộ từ cấp tỉnh đến xã, phường.

Hướng tới dòng vốn chất lượng, bền vững

Đồng hành tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đang góp phần thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và thu hút các nguồn vốn đầu tư vào tỉnh. Toàn tỉnh hiện có trên 5.200 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 163.000 tỷ đồng; có 537 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Thu hút đầu tư ngoài ngân sách đạt kết quả tích cực, với 23 dự án mới được tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư, tổng vốn đăng ký khoảng 43.274 tỷ đồng; thu hút 9 dự án FDI, tổng vốn đăng ký khoảng 192,8 triệu USD. Các dự án đang góp phần bổ sung nguồn lực phát triển, nhất là trong các lĩnh vực chế biến nông sản và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh tiếp nhận, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính.

Năng lượng là một trong những lĩnh vực được nhiều nhà đầu tư quan tâm. Toàn tỉnh hiện có 55 dự án năng lượng đang triển khai các thủ tục đầu tư ở nhiều giai đoạn, thuộc các lĩnh vực thủy điện, điện gió và điện mặt trời. Ông Mai Trọng Thịnh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Bắc Phương, chia sẻ: Trong quá trình nghiên cứu, triển khai dự án điện mặt trời trên lòng hồ, doanh nghiệp nhận được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, sự phối hợp của các sở, ngành và chính quyền địa phương. Những khó khăn, vướng mắc được kịp thời xem xét, tháo gỡ, góp phần rút ngắn thời gian hoàn thiện thủ tục, tạo điều kiện triển khai dự án.

Cùng với gia tăng số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư, tỉnh cũng định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội, công nghệ, sử dụng hiệu quả nguồn lực và bảo vệ môi trường làm những tiêu chí quan trọng. Trong đó, ưu tiên các dự án phù hợp với tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển của tỉnh, tạo giá trị gia tăng và đóng góp lâu dài cho địa phương.

Nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, tỉnh tiếp tục tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, mặt bằng và vật liệu xây dựng; đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, cấp phép các mỏ khoáng sản làm vật liệu xây dựng, thúc đẩy tiến độ tuyến cao tốc Hòa Bình - Mộc Châu. Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành Trung ương chuẩn bị đầu tư nâng quy mô tuyến cao tốc từ 2 lên 4 làn xe và xúc tiến các bước đầu tư tuyến cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên.

Ông Nguyễn Văn Phong, Phó Giám đốc Sở Tài chính, cho biết: Tiếp tục nâng cao sức hấp dẫn và hiệu quả thu hút đầu tư, Sở sẽ tham mưu UBND tỉnh triển khai đồng bộ các giải pháp, thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án có chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội cao, ứng dụng công nghệ, sử dụng hiệu quả nguồn lực và gắn với bảo vệ môi trường. Đồng thời, công khai, minh bạch quy hoạch, danh mục dự án và thông tin về môi trường đầu tư trên nền tảng số; phối hợp với các sở, ngành, địa phương kịp thời tổng hợp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, rút ngắn thời gian xử lý công việc và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai dự án.

Cải thiện môi trường đầu tư là quá trình tạo dựng niềm tin, giảm chi phí cho doanh nghiệp, nâng cao chất lượng điều hành và khả năng tiếp cận các nguồn lực. Với những giải pháp đồng bộ, quyết liệt, Sơn La đang từng bước xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển lâu dài, huy động thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Nguồn: Báo Sơn La
Xem thêm tin tức