Doanh nghiệp tư nhân tìm đường vào nhịp tăng trưởng mới
Khi quy mô thị trường mở rộng, cơ hội và thách thức đi kèm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải trưởng thành, bản lĩnh và chuyên nghiệp hơn.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đang mở ra nhiều cơ hội cho khu vực kinh tế tư nhân, từ đầu tư hạ tầng, sản xuất công nghiệp cho đến sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng. Song, để những động lực ấy thực sự chuyển hóa thành hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp vẫn phải giải quyết hàng loạt bài toán về chi phí, nguồn vốn, logistics, thị trường và năng lực quản trị.
Những chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 - khu vực miền Bắc cho thấy, cộng đồng doanh nhân đang nhìn nhận tăng trưởng từ chính những vấn đề rất thực tế của vận hành. Một dự án có thực sự khả thi để triển khai hay không, một sản phẩm phải trải qua bao nhiêu khâu trung gian trước khi đến tay khách hàng, doanh nghiệp cần làm gì để tiếp cận nguồn vốn và phải thay đổi ra sao để bước sâu hơn vào các chuỗi cung ứng lớn.

Tăng trưởng phải đi qua những hoạt động kinh tế thực
Khi nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, ông Nguyễn Xuân Phú, Chủ tịch Tập đoàn Sunhouse cho rằng, cần nhìn sâu vào những chỉ dấu phản ánh sát sao hoạt động kinh tế thực. Theo ông, sức tiêu thụ điện, doanh số bán lẻ, lưu lượng hàng hóa qua cảng hay kết quả kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp chính là những thước đo đáng tin cậy để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế.
Khi sức mua cải thiện, doanh nghiệp có thêm đơn hàng; khi sản xuất được mở rộng, nhu cầu về nguyên liệu, thiết bị, vận tải và các dịch vụ phụ trợ cũng sẽ tăng theo tương ứng.
Đầu tư công và phát triển hạ tầng đang là yếu tố kích hoạt một dòng nhu cầu như vậy. Các dự án quy mô lớn kéo theo nhiều cơ hội cho ngành xây dựng, vật liệu, thiết bị, logistics cùng nhiều lĩnh vực dịch vụ liên quan. Tuy nhiên, ông Phú lưu ý, doanh nghiệp cần thẩm định kỹ lưỡng nguồn vốn và khả năng triển khai thực tế của từng dự án trước khi quyết định rót vốn.
Đặc biệt, những dự án phụ thuộc lớn vào nguồn thu từ đất cần được đánh giá hết sức thận trọng. Đối với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, chỉ cần một dự án bị chậm tiến độ cũng có thể làm đảo lộn kế hoạch giao hàng, gây căng thẳng dòng tiền và làm xáo trộn toàn bộ dây chuyền sản xuất.
Áp lực này càng trở nên hiện hữu khi chi phí kinh doanh neo ở mức cao. Lãi suất, chi phí nhân công, nguyên vật liệu cùng sức mua biến động đều tác động trực tiếp đến biên lợi nhuận. Do đó, doanh nghiệp buộc phải tính toán cực kỳ căn cơ trước mỗi quyết định mở rộng quy mô.
Song song với đó, sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu và dòng vốn FDI đang mang đến những cơ hội mới cho sản xuất trong nước. Việt Nam sở hữu lợi thế lớn từ mạng lưới các hiệp định thương mại tự do cũng như xu hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất của các tập đoàn quốc tế. Mặc dù vậy, theo ông Phú, doanh nghiệp nội địa vẫn phải chủ động nâng cao năng lực nội tại để đủ sức tham gia sâu hơn vào các mắt xích này.
Một trong những tư duy cần thay đổi là cách thức doanh nghiệp hợp tác với nhau. Ông Phú chỉ ra rằng doanh nghiệp Việt thường có xu hướng muốn tự làm nhiều công đoạn và giữ thông tin nội bộ khép kín. Trong khi đó, các chuỗi sản xuất lớn trên thế giới lại hình thành dựa trên nguyên tắc chuyên môn hóa cao độ: mỗi doanh nghiệp đảm nhận tối ưu một công đoạn rồi liên kết lại thành phẩm hoàn chỉnh.
Khi mỗi bên tập trung làm tốt phần việc thế mạnh của mình, doanh nghiệp vừa giảm được gánh nặng đầu tư dàn trải vừa cùng nhau chia sẻ rủi ro trong toàn chuỗi. Đây cũng là chìa khóa để các doanh nghiệp quy mô nhỏ tìm được chỗ đứng vững chắc trong những đơn hàng lớn.

Để một chuỗi giá trị vận hành trơn tru, sản phẩm còn phải vượt qua rất nhiều bước trung gian trước khi chạm đến tay người tiêu dùng cuối. Ông Trần Đăng Nam, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, Chủ tịch Tập đoàn Dolgroup nhận định, logistics đang là một trong những điểm nghẽn lớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo ông Nam, chi phí logistics tại Việt Nam hiện đang duy trì ở mức khoảng 16 - 18% GDP và kim ngạch xuất nhập khẩu, cao hơn đáng kể so với mức bình quân thế giới là 10 - 12%.
Gánh nặng chi phí này được tích lũy từ cả một hành trình dài của hàng hóa. Nguyên liệu có thể khởi hành từ một tỉnh miền núi đến nhà máy ở địa phương khác, tiếp tục lưu kho, qua trung tâm phân phối, cửa khẩu hoặc cảng biển rồi mới tới tay khách hàng. Chỉ cần một khâu bị chậm trễ hoặc phát sinh chi phí bất hợp lý, giá thành toàn bộ sản phẩm sẽ bị ảnh hưởng.
Chính vì vậy, ông Nam cho rằng, logistics cần được nhìn nhận như một hoạt động quản trị toàn diện chuỗi cung ứng thay vì chỉ là dịch vụ vận tải hàng hóa. Hệ thống hạ tầng giao thông, cảng biển, cửa khẩu và các trung tâm logistics cần được quy hoạch kết nối đồng bộ để doanh nghiệp tối ưu thời gian và cắt giảm chi phí trên toàn bộ hành trình của dòng hàng.
Đây cũng chính là yếu tố quyết định xem một lợi thế về vị trí địa lý hay hạ tầng có thực sự chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh hay không.

Muốn vào chuỗi, doanh nghiệp phải tự nâng cấp
Chi phí logistics giảm xuống sẽ giúp hàng hóa gia tăng sức cạnh tranh nhưng để giành được hợp đồng từ các khách hàng lớn, doanh nghiệp còn phải vượt qua rất nhiều tiêu chuẩn khắt khe khác.
Ông Nguyễn Tuấn Hải, Chủ tịch Tập đoàn Alphanam nhấn mạnh, quản trị rủi ro và sự tuân thủ cần được xem là những trụ cột cốt lõi của năng lực cạnh tranh.
Trong bối cảnh chi phí leo thang và biên lợi nhuận bị bóp nghẹt, doanh nghiệp bắt buộc phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ đủ mạnh để phòng ngừa rủi ro trong quá trình bứt phá. Ông ví hệ thống này giống như "bộ phanh" an toàn, giúp doanh nghiệp giữ vững tay lái trước những biến động thị trường và sẵn sàng tăng tốc bất cứ khi nào cơ hội xuất hiện.
Từ góc nhìn quản trị, ông Hải đưa ra bốn yêu cầu chiến lược bao gồm: tinh gọn, tinh vi, tinh tường và tinh tế. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ cần định vị mình là một mắt xích linh hoạt và hiệu quả trong chuỗi. Doanh nghiệp quy mô trung bình cần có khả năng nhân bản hệ thống và mô hình vận hành. Còn các doanh nghiệp lớn phải biết phân quyền minh bạch, tách bạch hệ thống và hài hòa lợi ích các bên.

Song song với bài toán quản trị, một thách thức lớn khác luôn hiện hữu là khả năng tiếp cận nguồn vốn.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV chỉ ra hàng loạt điểm nghẽn đang cản trở khu vực kinh tế tư nhân, từ khung chính sách, đất đai, nguồn vốn, chi phí đầu vào cho đến thị trường tiêu thụ và hoạt động đổi mới sáng tạo.
Theo ông Lực, có tới 75,5% doanh nghiệp thừa nhận không thể tiếp cận vốn vay nếu thiếu tài sản thế chấp và trên thực tế có đến 93,5% các khoản vay bắt buộc phải có tài sản bảo đảm.
Trong điều kiện tín dụng còn nhiều ràng buộc, việc minh bạch hóa tài chính và chuẩn hóa dòng tiền trở thành yêu cầu sống còn. Ông Lực khuyến nghị doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng quản trị tài chính để tạo dựng niềm tin và mở rộng cửa đón nguồn vốn tín dụng.
Đi đôi với bài toán dòng vốn chính là áp lực về đầu ra thị trường. Dữ liệu từ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được ông Lực dẫn chứng cho thấy có tới 60,2% doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng.
Khi thị trường đầu ra chưa thực sự ổn định, mọi quyết định mở rộng sản xuất đều tiềm ẩn rủi ro lớn. Do đó, doanh nghiệp cần thấu hiểu thị trường, xác định chính xác nhu cầu thực tế của khách hàng và chủ động bồi đắp năng lực để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của từng chuỗi cung ứng.

Đổi mới sáng tạo cũng đang là một khoảng trống lớn cần được lấp đầy. Theo ông Lực, chỉ có khoảng 5% doanh nghiệp thực sự đầu tư cho hoạt động đổi mới sáng tạo, và chừng 9% doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụ mới ra mắt trong ba năm qua.
Trong khi đó, các yêu cầu từ thị trường ngày càng gia tăng. Để tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng, doanh nghiệp bắt buộc phải đạt chuẩn về chất lượng, giá thành, tiến độ giao hàng, nền tảng công nghệ và năng lực quản trị. Những tiêu chuẩn này đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc và dài hạn trước khi doanh nghiệp có thể kỳ vọng gặt hái những hợp đồng quy mô lớn.

